Nghiên cứu khả năng xử lý rác hữu cơ nhà bếp của chế phẩm vi sinh vật bản địa IMO (Indigenous Microorganism)

Rác là hiểm họa của môi trường nhưng cũng là nguồn tài nguyên nếu chúng ta biết cách sử dụng, tái chế, khai thác và tái sử dụng. Khoảng 1/3 rác thải sinh hoạt là chất hữu cơ đặc biệt là rác thải nhà bếp có thể tái tạo một cách dễ dàng. Chất hữu cơ là một dạng nguyên liệu thô có thể biến thành phầ...

Descripción completa

Guardado en:
Detalles Bibliográficos
Autor principal: Tạ, Thị Vy
Otros Autores: Kiều, Thị Hòa
Formato: Tesis
Lenguaje:Vietnamese
Publicado: 2023
Materias:
Acceso en línea:http://data.ute.udn.vn/handle/123456789/346
Etiquetas: Agregar Etiqueta
Sin Etiquetas, Sea el primero en etiquetar este registro!
Thư viện lưu trữ: Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật - Đại học Đà Nẵng
Descripción
Sumario:Rác là hiểm họa của môi trường nhưng cũng là nguồn tài nguyên nếu chúng ta biết cách sử dụng, tái chế, khai thác và tái sử dụng. Khoảng 1/3 rác thải sinh hoạt là chất hữu cơ đặc biệt là rác thải nhà bếp có thể tái tạo một cách dễ dàng. Chất hữu cơ là một dạng nguyên liệu thô có thể biến thành phần phân hữu cơ có chất lượng tốt, đưa chất hữu cơ thiết yếu vào môi trường. Vì những lý do trên mà đề tài “ Nghiên cứu khả năng xử lý rác hữu cơ nhà bếp của chế phẩm vi sinh vật bản địa IMO (Indigenous Microorgranism)” được đề xuất nhằm hạn chế những tiêu cực mà rác thải gây ra góp phần bảo vệ môi trường và sức khỏe của con người. Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của việc sử dụng chế phẩm vi sinh IMO trong phân hủy rác hữu cơ nhà bếp. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng với cùng một lượng rác được ủ như nhau là 4 kg rác trong các thùng ủ thì thùng ủ T1 (có sử dụng chế phẩm vi sinh IMO và sục khí liên tục) có quá trình phân hủy C diễn ra nhanh hơn và nhiều hơn so với thùng ủ T2 (có chế phẩm vi sinh IMO và chỉ khuấy đảo bằng tay 2 lần/ ngày), cụ thể lượng C giảm 37,3% và 27,4% sau 35 ngày ủ và giảm được 60,3% và 50,4% sau 44 ngày ủ lần lượt ở thùng ủ T1 và T2. Riêng thùng ủ T3 (ủ bằng nước và chỉ khuấy đảo bằng tay 2 lần/ngày) thì sau 44 ngày, lượng C chỉ giảm được 29,8%. Lượng NO3 - và NH4 + cũng thay đổi trong suốt quá trình ủ, và lượng NO3 - có xu hướng giảm dần để giải phóng N2, cụ thể giảm khoảng 50% sau 44 ngày ủ ở cả 2 thùng T1 và T2